Trang chủ Các giá trị tốt đẹp, các mối quan hệ trong gia đình

CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA GIA ĐÌNH DÂN TỘC THÁI MƯỜNG SO

20/09/2017 Số lượt xem: 18 In trang này
Từ những dữ liệu lịch sử và văn hóa truyền thống của dân tộc Thái xã Mường So (huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) cho thấy họ thuộc ngành Thái Trắng, có lịch sử cư trú ở Mường So từ lâu đời[1] và tạo dựng những giá trị văn hóa truyền thống vừa mang những nét chung trong dòng chảy văn hóa dân tộc Thái nhưng cũng vừa có những nét riêng mang tính khu vực (vùng, miền), trong đó có các giá trị truyền thống gia đình, thể hiện ở những điểm sau: [1]. Giáo sư Hoàng Lương trong bài viết “Một số suy nghĩ về quá trình tộc người của các nhóm Thái Việt Nam” in trên Tạp chí DTH, số 3, 1997 thì: “Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm 3 lớp: Lớp thứ nhất cư trú ở nước ta từ thời cổ đại và là cư dân bản địa sinh tụ ở các thung lũng ven sông như sông Thao, sông Đà, sông Lô, sông Chảy, sông Mã… Lớp thứ hai là ngành Thái Trắng từ đầu Công nguyên đã cư trú ở những vùng đất hiện nay thuộc các tỉnh Lai Châu (các huyện Phong Thổ, Tam Đường, Tân Uyên, Than Uyên), Điện Biên (khu vực thị xã Mường Lay) và Sơn La (huyện Quỳnh Nhai); Lớp thứ ba là cư dân ngành Thái Đen di cư từ miền Nam Trung Quốc vào nước ta từ thế kỷ XIII…”  

1. Giá trị truyền thống với nét riêng trong kiểu gia đình phụ hệ

Dân tộc Thái Mường So trước kia cũng tồn tại hai kiểu gia đình là gia đình lớn (3 – 4 thế hệ) và gia đình nhỏ (2 thế hệ), nhưng hiện nay gia đình nhỏ là kiểu gia đình chủ yếu của dân tộc Thái ở Mường So. Trong gia đình, tính chất phụ quyền rất rõ nét (quyền hành tập trung vào người chồng, người cha). Tuy nhiên, vai trò của người phụ nữ vẫn được đề cao, nhất là trong việc nuôi dạy và giáo dục con cái. Người Thái gọi gia đình là “hươn” (nhà) và quan niệm nếu một người con trai với một người con gái lấy nhau là “có nhà” (mi hươn).

2. Giá trị truyền thống trong các chức năng của gia đình

Mỗi gia đình dân tộc Thái Mường So đều có các chức năng sinh sản, kinh tế, giáo dục, tâm lý-tình cảm, bảo vệ-chăm sóc sức khoẻ. Điều này mang tính phổ quát ở các gia đình, nhưng ở dân tộc Thái Mường So, những chức năng ấy đều có những đặc trưng riêng.

Text Box:  2.1. Mỗi gia đình dân tộc Thái Mường So đều có chức năng sinh sản để duy trì nòi giống. Người Thái nơi đây thường bảo nhau: “Suối nhỏ mà dài/Rễ người dài, rễ cây ngắn/Đời tiếp đời/Như rìu nối cán/Đời người nối đời người/Có gốc mới có cành/Có cành mới có lá” [Tục ngữ Thái] và “Không có mèo chuột cắn chạn/Không có con thiên hạ chê cười” [Tục ngữ Thái]. Thậm chí, họ còn cho rằng: “Ba lần cuộn khung cửi mới chắc/Ba mặt con mới thành vợ thành chồng” [Tục ngữ Thái]. Tuy nhiên, họ không coi quá đông con là hạnh phúc vì: “Con một ăn không hết/Con đàn ăn chẳng no” [Tục ngữ Thái].

2.2. Mỗi gia đình dân tộc Thái Mường So là một đơn vị kinh tế tự cung tự cấp. Bởi thế, họ luôn coi “Gạo nước ngồi trên/Vàng bạc ngồi dưới” [Tục ngữ Thái]; vì họ cho rằng: “Tiền bạc tựa như máu/Không khéo sẽ hại chủ” [Tục ngữ Thái]. Sự phân công lao động trong gia đình rất chặt chẽ theo giới tính và lứa tuổi. Những người nam giới đảm nhiệm toàn bộ công việc nặng nhọc như phát nương, cày ruộng, làm nhà cho đến một số việc thủ công gia đình như đan lát, mộc, rèn… Phụ nữ Thái đảm nhiệm việc gieo trồng, nội trợ, dệt vải, chăn nuôi…  Những người già trong các gia đình Thái ít khi phải lao động chân tay; nhưng họ có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn con cháu cách làm ăn.

2.3. Dân tộc Thái Mường So coi trọng giáo dục trong gia đình. Họ quan niệm: “Nuôi con mong cậy sức/Trồng dưa mong ăn quả” [Tục ngữ Thái] nên họ thường nhắc nhở nhau “Có trâu phải buộc/Có con phải dạy” [Tục ngữ Thái], vì “Có con không dạy bảo/Nó sẽ thành con khỉ độc” [Tục ngữ Thái]. Nhờ đó, mỗi gia đình tạo thành một đơn vị văn hóa, một môi trường trao truyền và phát triển nhân cách con người theo tư duy truyền thống và nếp sống cộng đồng. Từ lọt lòng, trẻ em đã được tiếp xúc với tiếng hát ru. Đến tuổi “trẻ trâu” các em chơi hát đồng dao – môi trường nghệ thuật đầu tiền. Lớn lên, các chàng trai, cô gái không chỉ được ông bà, cha mẹ dạy các kỹ năng nghề nghiệp theo giới tính (nữ học cấy hái, trồng bông dệt vải, hái lượm…; nam học cày bừa, đan lát, săn bắt…) mà còn được truyền dạy các điệu “khắp”, điệu “xòe”. Các chàng trai còn được học cách chế tác và sử dụng “tính tẩu”… Thông qua gia đình, mỗi thành viên đều học nếp ứng xử.

2.4. Gia đình dân tộc Thái Mường So còn có chức năng vun đắp tâm lý – tình cảm giữa các thành viên. Việc nên vợ nên chồng được họ ví “Hợp duyên hợp số/Thành đôi như đôi đũa/Nên cặp như cặp kìm” [Tục ngữ Thái], để rồi: “Kim đi chỉ theo/Chui ống cũng chui/Luồn ống cũng luồn” [Tục ngữ Thái]. Hình ảnh lý tưởng của những gia đình Thái là “Chồng làm sàn vợ đưa lạt/Chồng làm chạn vợ đưa rìu” [Tục ngữ Thái]. Tình cảm anh em ruột thịt cũng được coi trọng, bởi: “Anh em như sáo với kèn/Như tay trái với tay phải/Nặng chạy đến lấy/Nhẹ chạy đến đón/Ngã cùng nhau dậy/Chín cùng nhau ăn/Không ăn cũng cho/Không bảo cũng đi” [Tục ngữ Thái].

2.5. Việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình luôn được coi trọng, đặc biệt là con trẻ: “Chỗ ướt cha mẹ nằm/Nơi khô dành con ngủ/Được chim cha ăn mắt/Được cá mẹ nhai xương/Biết đi sợ ngã thang/Biết bò sợ rơi sàn” [Tục ngữ Thái]. Và mỗi khi con ốm đau, cha mẹ lại lo lắng: “Que đập mắt nước mũi chảy/Con bị nạn bố mẹ lo âu” [Tục ngữ Thái].

3. Giá trị truyền thống trong nếp sống gia đình.

Text Box:  3.1. Nếp sống gia đình dân tộc Thái Mường So thể hiện trước hết ở mối quan hệ vợ chồng hòa thuận. Tục ngữ của họ có câu: “Vợ chồng tâm đồng ý hợp, chém núi cũng lở; ngược ý trái tâm, chém dây leo chẳng đứt” [Tục ngữ Thái]. Bởi thế, vợ chồng người Thái gắn bó đến mức: “Vợ chồng tủi sầu không chia, khốn cùng không lìa” [Tục ngữ Thái]. Nhờ thế mà tuy theo khuôn phép phụ quyền nhưng nét bình đẳng, tương trợ, tình thương yêu vẫn là nét nổi bật trong quan hệ vợ chồng. Hàng ngày người nào việc nấy theo phân công lao động tự nhiên chứ không tị nạnh, đùn đẩy cho nhau, bởi họ quan niệm sự giàu có là do “Đàn ông đem đến, đàn bà làm ra” [Tục ngữ Thái], muốn thế thì phải: “Tiền của làm được khắc có/Vợ chồng hòa thuận thì nên” [Tục ngữ Thái]… Đó là nguyên nhân sâu xa khiến cho ở dân tộc Thái Mường So không có bạo lực gia đình, quan hệ vợ chồng rất bền vững, vợ chồng thương yêu nhau (Mỗi cặp vợ chồng đều có buồng riêng, chung đệm, chung chăn đến trọn đời).

3.2. Nếp sống gia đình dân tộc Thái Mường So còn thể hiện ở truyền thống kính già, yêu trẻ. Ở gia đình Thái, cha mẹ có nghĩa vụ nuôi con khôn lớn và dựng vợ, gả chồng cho con; vì thế họ chỉ có thể yên tâm nhắm mắt khi đã lo làm nhà xong cho đứa con cuối cùng. Họ rất mực thương yêu con cái, thường dùng lời lẽ nhẹ nhàng bảo ban, hiếm có chuyện mắng chửi và hầu như không bao giờ dùng roi vọt để dạy con. Trong gia đình, trẻ nhỏ và người già nhận được nhiều sự quan tâm, chăm sóc. Khi mổ gà, trẻ nhỏ bao giờ cũng được ăn phần đùi gà. Trong bữa ăn, chỗ của người già là đầu mâm. Khách lạ lên nhà hoặc người thân quen lâu ngày đến thăm nếu đem theo ít quà thì chỉ cần đưa cho người già hoặc trẻ nhỏ là được. Những thành viên có tuổi thuộc các thế hệ trên như ông bà, bố mẹ rất được kính trọng. Buồng ngủ của họ ở sát bên phải gian thờ (nơi tôn quý nhất trong ngôi nhà). Bên ngoài căn buồng này là một bếp nhỏ hơn bếp nấu ăn thường ngày, để dành cho người già sưởi ấm trong những ngày đông tháng giá.

3.3. Nếp sống gia đình dân tộc Thái Mường So còn phản ánh trong mối quan hệ tốt đẹp với các nàng dâu, chàng rể. Các nàng dâu trong nhiều trường hợp còn được đánh giá cao hơn con gái trong gia đình, bởi: “Nhờ con dâu còn được/Cậy con gái không xong” [Tục ngữ Thái], vì: “Nhà có con dâu ăn gạo trắng/Nhà có con gái ăn gạo hẩm” [Tục ngữ Thái]. Bởi thế, quan hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu trong các gia đình dân tộc Thái Mường So rất tốt đẹp, con dâu được quý như con đẻ. Khi con dâu sinh nở, mẹ chồng sẽ là bà đỡ và trực tiếp chăm sóc con dâu trong thời gian ở cữ. Không những thế, các nàng dâu còn có vai trò rất lớn đối với nhà chồng, đến mức: “Dâu lớn thay mẹ chồng/Dâu út lo việc trong nhà/Dâu giữa giữ tiền nong/Nhà nên do con dâu/Nhà rộng do con trai” [Tục ngữ Thái]. Những người con rể trong thời ở rể phải lo mọi việc nhà vợ, đảm nhận những công việc khó khăn, nặng nhọc nhất. Những gia đình không có con trai thường lấy rể đời. Trong trường hợp này, họ được coi như con đẻ và được thừa kế toàn bộ tài sản, đồng thời có trách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ vợ khi sống và thờ cúng bố mẹ vợ khi chết.

3.4. Nếp sống gia đình dân tộc Thái Mường So còn hiển hiện rõ nét trong truyền thống dân chủ, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau. Người con nào khi đến tuổi trưởng thành lấy vợ, lấy chồng trước cũng được, không nhất thiết phải theo thứ tự tuổi tác. Khi bố mẹ già yếu có thể ở với con nào hợp tính và chết tại nhà người con này. Trường hợp đã già yếu, biết mình không còn sống được bao lâu nữa, bố mẹ thường họp các con lại để dặn dò và phân chia số tài sản còn lại. Khi chia tài sản, bố mẹ thường xem xét ai khó khăn  sẽ được ưu tiên, riêng ngôi nhà và phần tài sản nhiều nhất dành cho người con trai phụng dưỡng bố mẹ, những người con khác không có quyền so bì, tranh chấp. Khi bố mẹ chết, chi phí cho tang lễ thường do người con trai ở với bố mẹ chịu phần lớn (vì đã được hưởng nhà cửa và phần tài sản nhiều nhất). Những người con gái đã đi lấy chồng thì chi phí tùy tâm (theo điều kiện kinh tế của mình). Phần chi phí tang lễ còn lại được chia đều cho các con trai khác. Tiền và của cải phúng viếng được trừ chi phí, nếu thiếu bổ đều cho các con trai; nếu thừa đem chia đều, không phân biệt người có quan hệ rộng – được nhiều người đến chia buồn. Sau khi cha mẹ đã “mồ yên mả đẹp”, các con trai làm lễ rước linh hồn bố mẹ về “hoóng” (nơi thờ tổ tiên). Nếu có con trai nào đi làm con nuôi họ khác hoặc đi “ở rể đời” thì sẽ dựng một cái nhà nhỏ (hươn nọi) bên ngoài ngôi nhà mình đang ở để thờ vong linh bố mẹ đẻ, các con gái đã đi lấy chồng cũng làm tương tự để thờ bố mẹ đẻ của mình.

* Các giá trị truyền thống của gia đình dân tộc Thái Mường So đã tạo nên sự vững vàng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóa truyền thống đa dạng, giàu bản sắc, nếu được bảo tồn và phát huy sẽ là điều kiện quan trọng để vừa đảm bảo tính bền vững trong việc “xây dựng gia đình văn hóa”, vừa góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập và phát triển.

Bình luận